QUYỀN TỰ CHỦ CỦA CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG – YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH CHẤT LƯỢNG VÀ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA MỘT NHÀ TRƯỜNG

Con người là sản phẩm của tạo hóa, là sản phẩm tuyệt vời nhất trong tất cả những thứ tuyệt vời nhất mà thiên nhiên, trong hàng triệu, triệu năm đã tạo ra trên trái đất này. Con người là tượng trưng cho sự sáng tạo của thiên nhiên và của nhân loại. Cho nên, Nhà trường phải là một nơi hoạt động sáng tạo nhất trong những cơ sở hoạt động sáng tạo. Muốn có sáng tạo, nhà trường phải được quyền và có quyền tự chủ.

QUYỀN TỰ CHỦ CỦA CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG – YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH CHẤT LƯỢNG VÀ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA MỘT NHÀ TRƯỜNG

 

  1. Trường Nguyễn Bỉnh Khiêm - Cầu Giấy 24 năm xây dựng và phát triển

Trường Nguyễn Bỉnh Khiêm - Cầu Giấy Hà Nội (NBK) là một trường Tư thục. Được thành lập cách đây 23 năm, từ chỗ chỉ có 75 học sinh trong năm đầu thành lập, phải thuê mượn địa điểm, “trôi dạt” nay đây mai đó trong suốt 3 năm đầu tiên, đến nay đã trở thành một một hệ thống các trường Tiểu học, THCS & THPT, Trung cấp chuyên nghiệp mang tên Nguyễn Bỉnh Khiêm- Cầu Giấy với gần 3000 học sinh học bán trú. Trường được công nhận chuẩn Quốc gia năm 2006, được thưởng Huân chương lao động hạng 3 năm 2010, được UBND thành phố Hà Nội công nhận trường THPT chất lượng cao năm 2015, nhiều lần được tặng bằng khen của Chính phủ, bằng khen của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và UBND thành phố. Đến nay trường đã có trường sở riêng, gồm 4 tòa nhà cao từ 6 đến 9 tầng với 157 phòng học, thư viện, phòng bộ môn và phòng làm việc, tọa lạc trên diện tích đất 7100m2 do thành phố Hà Nội giao từ năm 2002 tại phố Trần Quốc Hoàn - Quận Cầu Giấy. Cùng với địa điểm chính trên phố Trần Quốc Hoàn, trường còn sở hữu 2 Trung tâm Trải nghiệm Sáng tạo. Trung tâm số một, ở thành phố Vĩnh Yên, theo mô hình “ Trường trong vườn”, có diện tích 7,5 ha, cách trường 50 km theo đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai, được xây dựng từ năm 2009 với mức đầu tư 50 tỉ. Trung tâm số hai ở Đắc Sở - Hoài Đức, Hà Nội cách trường 20 km theo mô hình “ Công viên trường học”, được xây dựng trên diện tích 4 ha từ năm 2014 với mức đầu tư 20 tỉ. Với thành quả 24 năm xây dựng và phát triển, trường Nguyễn Bỉnh Khiêm đã trở thành một thương hiệu giáo dục ở Hà Nội. Thành quả 24 năm của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một minh chứng thực tế cho việc thực hiện sáng tạo và phát huy tối đa quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục phổ thông Ngoài công lập, mang lại hiệu quả giáo dục và kinh tế rõ rệt.      

  1. Các cơ sở giáo dục (CSGD) phổ thông cần có và cần được quyền tự chủ

Độc lập tự do mang lại nguồn hạnh phúc, sáng tạo và nguồn lực vô tận cho một dân tộc, một đất nước. Tự do mang lại sức sống mãnh liệt, giải phóng trí tuệ và khơi nguồn sáng tạo cho con người. Một cơ sở sản xuất hoạt động trong khuôn khổ pháp luật nhưng có quyền tự chủ, được tự do kinh doanh những sản phẩm pháp luật không cấm, được tự chủ về tài chính, về nhân lực, về sản xuất và giao thương. Có được tự chủ và có quyền tự chủ cao doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển, đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Cơ sở giáo dục – Nhà trường là nơi “Có sứ mệnh phát triển nhân cách cho học sinh và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện thường xuyên thay đổi; Là trung tâm văn hóa giáo dục của địa phương” (1). Nhà trường là nơi đào tạo và góp phần phát triển nhân cách cho học sinh, về góc độ hoạt động xã hội, nhà trường cũng phải được coi như một doanh nghiệp sản xuất. Doanh nghiệp thông thường sản xuất ra của cải vật chất. Nhà trường hình thành và hoàn thiện nhân cách, một siêu sản phẩm thuộc về con người. Nhà trường phải được quyền tự chủ một cách đầy đủ để thực hiện sứ mệnh vinh quang của mình. Có quyền tự chủ, nhà trường mới phát huy hết tiềm lực để xây dựng và phát triển, mới thực sự nâng cao được chất lượng giáo dục.

Con người là sản phẩm của tạo hóa, là sản phẩm tuyệt vời nhất trong tất cả những thứ tuyệt vời nhất mà thiên nhiên, trong hàng triệu, triệu năm đã tạo ra trên trái đất này. Con người là tượng trưng cho sự sáng tạo của thiên nhiên và của nhân loại. Cho nên, Nhà trường phải là một nơi hoạt động sáng tạo nhất trong những cơ sở hoạt động sáng tạo. Muốn có sáng tạo, nhà trường phải được quyền và có quyền tự chủ. Quyền tự chủ mang lại sức sống mãnh liệt, giải phóng sức người và khơi nguồn sáng tạo cho một cơ sở sản xuất, một cơ sở giáo dục. Cơ sở giáo dục nói chung và CSGD phổ thông không phải đào tạo ra những người máy mà là đào tạo và phát triển những nhân cách khác nhau gắn với những con người cụ thể, hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu, triệu những con người, bằng xương bằng thịt hoàn toàn khác nhau. Đó là sự khác nhau giữa cơ sở sản xuất ra các sản phẩm vật chất với CSGD, hoạt động trong lĩnh vực giáo dục con người. Cho nên quyền tự chủ của một CSGD là một tất yếu. Quyền tự chủ của Cơ sở giáo dục tạo ra những giá trị mới làm cho Nhà trường phát triển theo kịp sự phát triển của nền kinh tế - xã hội và quay trở lại phục vụ sự phát triển xã hội.

Có quyền tự chủ thì cơ sở giáo dục mới có khả năng huy động được nguồn lực xã hội một cách tối ưu, phục vụ sự phát triển giáo dục và đáp ứng nhu cầu về một nền giáo dục chất lượng cao của nhân dân. Trước đây 30 năm ta chỉ có trường công. Mọi nguồn thu cho giáo dục chỉ do nhà nước cung cấp. Có giải pháp nào giúp tăng nguồn thu cho giáo dục từ các nguồn lực xã hội và nhân dân. Đường lối xã hội hóa giáo dục của Đảng và chính sách khuyến khích xã hội hóa giáo dục của nhà nước ta đã làm xuất hiện mô hình trường Dân lập rồi trường Tư thục với quyền tự chủ, sự năng động trong phát triển giáo dục. Đó chính là giải pháp huy động nguồn lực từ nhân dân và xã hội cho giáo dục. Hàng trăm, hàng ngàn trường Tư thục ở tất cả các cấp học được thành lập, đi vào hoạt động và phát triển, chia sẻ gánh nặng cho nhà nước về chỗ học của con em nhân dân, về ngân sách nhà nước, tạo ra sự thi đua lành mạnh trong phát triển giáo dục của từng địa phương và trong cả nước. Chỉ tính riêng ở Hà Nội, năm học 2016-2017 đã có 482 CSGD ngoài công lập với 211.826 học sinh (2). Nếu tính số tiền huy động từ xã hội hóa cho giáo dục trong một năm, chỉ tính tối thiểu theo định mức đầu tư của nhà nước là 5 triệu / 1 học sinh/ năm thì số tiền xã hội hóa chia sẻ gánh nặng cho ngân sách sẽ là 1.059 tỉ đồng. Trên thực tế, mức học phí các CSGD ngoài công lập huy động còn cao hơn tới chục lần định mức của nhà nước cho nên số tiền huy động từ nguồn lực xã hội hóa này sẽ lên tới chục ngàn tỉ đồng/ năm.   

  1. Quan niệm về quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở Giáo dục

- Quyền tự chủ luôn gắn liền với trách nhiệm xã hội. CSGD đào tạo những con người, là chủ nhân tương lai của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói với thiếu nhi: “Non sông gấm vóc của ta có được vẻ vang hay không là nhờ ở công học tập của các cháu”. Do vậy CSGD phải dạy dỗ, đào tạo nên những con người làm chủ, những con người lao động có trách nhiệm, sáng tạo chứ không phải đào tạo ra những con người có chút ít kiến thức nhưng chỉ biết vâng lời, bảo sao làm vậy. Cũng không thể có quyền tự chủ theo kiểu “muốn làm gì thì làm”. Cơ sở giáo dục thực hiện quyền tự chủ trên cơ sở pháp luật, thực hiện mục tiêu đào tạo theo qui định của luật Giáo dục và lợi ích tối thượng của học sinh, bảo đảm các quyền của trẻ em và mang lại hạnh phúc cho con trẻ, đáp ứng nhu cầu chính đáng của xã hội, của cha mẹ học sinh và học sinh. Đó là trách nhiệm xã hội của CSGD.

- Quyền tự chủ của CSGD là tự chủ về chuyên môn, nhân sự và tài chính. Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể đã được hội đồng thẩm định Quốc gia thông qua tháng 7 năm 2017, mục VII/ 1 có ghi “ nhà trường … được tự chủ về chuyên môn, nhân sự và tài chính ”.  

Quyền tự chủ trong hoạt động chuyên môn, bao gồm việc triển khai thực hiện chương trình giáo dục quốc gia, tự chủ trong việc xây dựng và thực hiện các chương trình bổ sung và tăng cường, chương trình nhà trường cho phù hợp với đối tượng học sinh của từng CSGD, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội từng vùng miền và nhu cầu thực tế của nhân dân. Quyền tự chủ chuyên môn cũng bao gồm quyền tự chủ về tổ chức thực hiện các phương pháp giáo dục kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, phù hợp với những thành quả mới nhất của khoa học Tâm lí- Giáo dục, vận dụng được những thành quả cập nhật của khoa học kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin, truyền thông. Và một điều rất quan trọng nữa là: Quyền tự chủ về thời gian tổ chức các hoạt động giáo dục không trái với luật pháp. Đối với các CSGD ngoài công lập, đó là quyền được tổ chức dạy học trong những khoảng thời gian thích hợp với hoàn cảnh địa lí của đia phương, phù hợp với từng đối tượng học sinh và đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, trên cơ sở thỏa thuận với cha mẹ học sinh và mang lại hiệu quả giáo dục thực sự. Ví dụ như được tổ chức dạy học bán trú, nội trú, được tổ chức dạy học vào những khoảng thời gian bổ sung ngoài biên chế năm học, giúp nâng đều trình độ học tập của những đối tượng gặp khó khăn trong học tập, giúp phụ đạo học sinh yếu kém và bồi dưỡng học sinh giỏi.

Quyền tự chủ về nhân sự, bao gồm quyền tự chủ trong việc tuyển chọn giáo viên, nhân viên, tuyển chọn cán bộ quản lí, trong đó có quyền dừng hợp đồng, thuyên chuyển hoặc sa thải những người không phù hợp, làm việc kém hiệu quả; Tự chủ trong việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhằm nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng kịp thời và tốt nhất yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục. Quyền tự chủ về chuyên môn và nhân sự của các trường công lập và ngoài công lập về cơ bản như nhau. Các trường ngoài công lập có thể có độ linh hoạt, sự sáng tạo cao hơn nhưng các trường công lập vẫn cần có tất cả các quyền tự chủ gọi là tối cần thiết, tối thiểu như trên. Có vậy trường công lập mới có thể phát huy được tính chủ động, sáng tạo đặng có thể phát triển trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.

Quyền tự chủ về tài chính, đối với các trường công lập là quyền được tự chủ và cân đối thu chi trong phạm vi ngân sách được cấp theo phân bổ hàng năm của nhà nước. Cũng cần có quyền được huy động các nguồn lực tài chính trong xã hội theo đường lối xã hội hóa giáo dục của Đảng và các chính sách khuyến khích xã hội hội hóa giáo dục của nhà nước, với yêu cầu công khai, minh bạch, được lòng dân, phục vụ trực tiếp cho công tác giáo dục, cho phát triển cơ sở vật chất phục vụ dạy học và cho sự tiến bộ của học sinh, cho nâng cao chất lượng giáo dục, hoàn toàn không trái qui định của pháp luật, không tư túi. Các yêu cầu trên chính là trách nhiệm xã hội trong thực hiện quyền tự chủ tài chính của các trường công lập. Quyền tự chủ về tài chính của các trường ngoài công lập là quyền tự chủ trong việc quyết định các mức thu học phí và phí các dịch vụ trong CSGD từ cha mẹ học sinh, quyết định huy động các nguồn tài chính từ xã hội như tiền vay ngân hàng, tiền huy động từ các cổ đông, những nhà đầu tư, vay của giáo viên và cha mẹ học sinh phục vụ đầu tư phát triển, quyền quyết định các mức chi tiền lương, tiền công, chi phí cho các hoạt động giáo dục, đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đầu tư cho việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ. Quyền tự chủ tài chính của các trường ngoài công lập phải trên cơ sở thỏa thuận và đạt được sự đồng thuận của cha mẹ học sinh, bảo đảm cân đối thu chi ngắn hạn và dài hạn, sự tự chịu trách nhiệm của cá nhân hay tập thể những người giữ vai trò chủ trường, bảo đảm công khai, minh bạch, được lòng dân, phục vụ trực tiếp cho công tác giáo dục, cho phát triển cơ sở vật chất phục vụ dạy học và cho sự tiến bộ của học sinh, cho nâng cao chất lượng giáo dục, hoàn toàn không trái qui định của pháp luật, không chỉ vì lợi nhuận. Trong đó yêu cầu tối thượng là sự thỏa thuận và được sự đồng thuận của cha mẹ học sinh. Sự thỏa thuận dựa trên nguyên tắc: Sao cho những gì mà cha mẹ học sinh bỏ ra đầu tư cho con thì con họ phải được hưởng thụ tương xứng và còn hơn cả thế nữa. Tại sao con họ lại được hưởng hơn cả những giá trị mà cha mẹ bỏ ra hôm nay? Điều đó cũng dễ hiểu vì nhà trường ngoài công lập có thể huy động nguồn lực tài chính to lớn từ những nơi khác nhau để đầu tư xây dựng và phát triển trường lâu dài, để mang lại những giá trị sử dụng và hiệu quả giáo dục cao hơn những gì cha mẹ học sinh bỏ ra hôm nay. Những giá trị đó được dùng cho nhiều học sinh, trong nhiều năm, thậm chí nhiều thế hệ học sinh nhưng được khấu hao trong một thời gian dài. Có thực hiện nguyên tắc như vậy CSGD ngoài công lập mới giữ được chữ tín. Đó là trách nhiệm xã hội của CSGD, cũng là cơ chế tự nhiên để các CSGD ngoài công lập phát triển bền vững và không bị đào thải trong môi trường canh tranh cao.

- Quyền tự chủ về tuyển sinh, về xây dựng cơ sở vật chất, quyền tự chủ về các mối liên kết giáo dục. Ngoài 3 quyền tự chủ được nêu trong dự thảo Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể thì các CSGD ngoài công lập còn cần được quyền tự chủ về một số nội dung khác nữa, rất quan trọng như tự chủ về tuyển sinh, tự chủ về xây dựng trường sở, tạo sức mạnh về cơ sở vật chất, quyền tự chủ về các liên kết giáo dục trong và ngoài nước. Đối với các trường công lập, những điều này không hẳn là những trọng tâm, vì trường sở của các trường công lập hầu hết đều do nhà nước, căn cứ vào nhu cầu của vùng dân cư và qui hoạch phát triển mà cắm đất, xây trường, mà khoanh vùng tuyển sinh và qui định đối tượng tuyển sinh. Tức là có trường sở, cơ sở vật chất đầy đủ, có nguồn tuyển sinh lâu dài mới có trường công lập. Các trường ngoài công lập được quyền tự chủ về cơ sở vật chất là được quyền quyết định mức đầu tư ban đầu và lâu dài cho xây dựng trường sở và cơ sở vật chất, bảo đảm mức yêu cầu tối thiểu theo qui định điều kiện thành lập trường. Hiện nay, đối với giáo dục, có điều kiện cơ sở vật chất tốt, thậm chí hiện đại, khác biệt, ưu việt thì trường ngoài công lập mới tồn tại và phát triển được. Đó là điều kiện sinh tồn của CSGD.

 Quyền tự chủ tuyển sinh là quyền các CSGD ngoài công lập được quyết định đối tượng chính trong tuyển sinh của mình là ai. CSGD sẽ đáp ứng nhu cầu về mục tiêu nào của đối tượng tuyển sinh mà họ hướng tới. Ví dụ có trường xác định đối tượng hướng tới của họ là con em tầng lớp giàu có, có đủ điều kiện đóng học phí cao để mưu cầu những dịch vụ giáo dục cao, giúp họ giành hẳn thời gian đáng lẽ dùng để phục vụ con cái vào việc kinh doanh, làm ra nhiều tiền hơn, để con họ giỏi ngoại ngữ hơn (cao hơn mục tiêu đầu ra về ngoại ngữ của Bộ Giáo dục), đặng có đủ điều kiện đi du học. Có trường xác định đối tượng của họ là con em tầng lớp trung lưu, có thu nhập khá, đủ trang trải mức học phí không cao của trường tư, để được hưởng những dịch vụ tốt hơn như bán trú, xe đưa đón, học tăng cường ngoại ngữ, được học trong những lớp học mà sĩ số học sinh không vượt quá 30, thậm chí không vượt quả 20, 25 để được chăm lo học hành và chăm sóc sức khỏe, để phát huy được những năng lực nổi trội, để không bị sức ép học tập cao mà vẫn có kết quả mong muốn. Có trường xác định đối tượng của họ chỉ là con em những gia đình có mức thu nhập trung bình, chỉ đóng được học phí ở mức cố gắng tối đa, khi con em của họ không đủ điểm vào được lớp 10 trường công lập. Theo những ví dụ trên, đối tượng tuyển sinh hiện thời của các trường ngoài công lập không cạnh tranh trực tiếp với các trường công lập. Tuy nhiên có thể có sự cạnh tranh tiềm tàng khi nền kinh tế phát triển, số dân có thu nhập cao hơn mức thu nhập trung bình hiện nay tăng lên. Trong hoàn cảnh đó, trường công lập không đổi mới, không đáp ứng được nhu cầu chính đáng của người dân thì trường công lập sẽ hụt nguồn tuyển sinh. Khi xác định được đối tượng tuyển sinh thì CSGD ngoài công lập được quyền tự chủ tuyển sinh. Tuyển sinh vào một thời gian thích hợp, theo một phương thức thích hợp như thi tuyển hay xét tuyển, miễn là phương thức và thời gian tuyển sinh đó phù hợp với đại đa số đối tượng tuyển sinh của trường, mang lại thuận lợi cho học sinh, cha mẹ học sinh và hiệu quả cao nhất cho nhà trường. Và nhất không tạo ra những gì phiền toái cho xã hội. Đó là trách nhiệm xã hội của CSGD ngoài công lập.

Các CSGD có quyền tự chủ trong các mối quan hệ đối ngoại, trong đó có liên kết với các trường trong nước và Quốc tế. Các CSGD có quyền quyết định mình liên kết với ai, ở mức nào, nhằm mục đích gì và liên kết với những nội dung nào. Mọi sự liên kết đều có mục đích và quyết định bởi mục đích. Những liên kết giáo dục giữa các CSGD trong nước hiện nay chưa nhiều, do đó có thể chưa phát huy hết tiềm năng của sự đa dạng của các CSGD ở những vùng miền khác nhau trên cả nước, chưa phát huy được những kinh nghiệm và bài học hay của mỗi trường, sự hỗ trợ lần nhau giữa các trường mạnh và các trường còn khó khăn để cùng nhau tiến lên, kể cả công lập và ngoài công lập. Giáo dục chúng ta chưa phát huy tự chủ trong lĩnh vực này mà chủ yếu còn do các tổ chức xã hội hay truyền thông chủ động làm, dắt tay chúng ta đến với nhau, dắt tay học sinh các vùng miền đến với nhau. Đó là một điểm yếu. Quyền tự chủ trong sự liên kết quốc tế là cần thiết nhưng trong bối cảnh kinh nghiệm làm việc trong môi trường Quốc tế của chúng ta chưa có nhiều thì quyền tự chú cần gắn liền với sự hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn về đối ngoại của nhà nước. Các trường nên hướng liên kết giáo dục quốc tế theo con đường mà các cơ quan giáo dục cấp trên đã đi trước và mở ra cho chúng ta. Tuy nhiên nhà nước cũng nên cho phép các CSGD được tự chủ trong việc lựa chọn các CSGD nước ngoài phù hợp để liên kết, miễn là không trái với các qui định của pháp luật về ngoại giao và giáo dục.    

  1. Thực trạng về quyền tự chủ của các CSGD  phổ thông ngoài công lập

Quyền  tự chủ của các CSGD phổ thông ngoài công lập đã được xác lập đầy đủ trên cơ sở luật Giáo dục, điều lệ trường phổ thông và qui chế hoạt động của các trường ngoài công lập (3) cũng như rất nhiều các văn bản khuyến khích xã hội hóa giáo dục của Đảng, của nhà nước và của các địa phương. Thực hiện đường lối xã hội hóa giáo dục của Đảng, nhà nước ta và Bộ Giáo dục & Đào tạo, các cấp chính quyền địa phương đã nhiều lần ban hành các văn bản (4) và sửa đổi văn bản để hoàn thiện các chính sách khuyến khích xã hội hóa giáo dục làm cho các chính sách đó có khả năng đi vào thực tiễn và phát huy được hiệu quả. Nhờ những qui định của các văn bản đầu tiên và sửa đổi này mà trong gần 30 năm qua, các trường phổ thông NCL đã có những bước phát triển mạnh mẽ góp phần to lớn vào việc tạo thêm chỗ học cho trẻ em và nâng cao chất lượng giáo dục. Chỉ tính riêng ở Hà Nội, năm học 2016-2017 đã có 482 CSGD ngoài công lập với 211.826 học sinh, 21.237 giáo viên trong số 2.665 CSGD. 1.814.651 học sinh và 104. 605 giáo viên toàn thành phố. Các trường ngoài công lập đã đầu tư xây dựng được 12.194 phòng học (5). Nếu tính trong cả nước thì các con số đó sẽ lớn biết chừng nào. Đó chính là thành quả của đường lối xã hội hóa giáo dục của Đảng và nhà nước, của việc phát huy quyền tự chủ của các CSGD ngoài công lập. Một minh họa cụ thể như trường THCS & THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm –Cầu Giấy Hà Nội từ chỗ chỉ có 75 học sinh trong năm học đầu tiên năm 1993, từ chỗ phải thuê mượn địa điểm, “ trôi dạt nay đây mai đó ” đến chỗ phát triển mạnh mẽ, có cơ sở vật chất trị giá hàng trăm tỉ đồng, có hàng ngàn học sinh, trở thành trường chuẩn Quốc gia, trường chất lượng cao và trở thành một thương hiệu giáo dục của thủ đô như bây giờ chính là nhờ có được quyền tự chủ và thực hành quyền tự chủ trên cơ sở đường lối xã hội hóa giáo dục của Đảng và chính sách khuyến khích xã hội hóa giáo dục của nhà nước. Chủ trương và các chính sách xã hội hóa giáo dục đã được cụ thể hóa bằng các văn bản của nhà nước, của Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục & Đào tạo cũng như của chính quyền các địa phương. Tuy nhiên trong những điều kiện cụ thể, thời điểm cụ thể thì quyền tự chủ trên một số lĩnh vực hoạt động của các CSGD bị hạn chế, hoạt động của các nhà trường gặp khó khăn do một số qui định cụ thể, một số văn bản chỉ đạo cụ thể, trực tiếp của một số cấp quản lí giáo dục gây ra. Tuy không thường xuyên, phổ biến nhưng những qui định đó cũng là những rào cản, kìm hãm phát triển. Ví dụ có thời gian (đã qua lâu rồi) một số địa phương chủ trương qui định mức trần học phí của các trường ngoài công lập. Những năm gần đây, có lúc, có địa phương cấm các trường không được hoạt động hè, không được dạy học trong tháng 7 bất kể là dạy học như thế nào. Hoặc có nơi qui định cứng thời gian tuyển sinh đầu cấp đối với các trường ngoài công lập mà không đếm xỉa gì đến những đặc thù của các trường ngoài công lập cũng như nhu cầu chính đáng của người dân. Có nơi cấm các trường ngoài công lập không được tuyển sinh trước thời gian so với các trường công lập cùng cấp và yêu cầu xử lí nghiêm các trường nào vi phạm qui định. Kể cả có lúc, có nơi lại cấm “dạy trước chương trình”- Thế nào là dạy trước chương trình? Và lấy danh nghĩa cấm “dạy thêm học thêm” để cấm các trường ngoài công lập hoạt động trong hè. Trong lúc hoạt động hè đã trở thành một nhu cầu chính đáng của đại đa số cha mẹ học sinh để giúp họ quản lí con cái, để con họ được chăm lo giáo dục một cách an toàn và hiệu quả, giúp các học trò gặp khó khăn trong học tập có thêm thời gian bổ sung kiến thức, rèn kĩ năng và trải nghiệm để theo kịp bạn bè. Những điều kể trên không những làm mất quyền tự chủ chính đáng của các CSGD, các quyền đã được qui định trong luật mà còn làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của con em nhân dân, nhất là những đối tượng dễ bị tổn thương, những đối tượng không có điều kiện nói lên tiếng nói của mình.   

  1. Giải pháp tăng cường thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các CSGD phổ thông ngoài công lập

Quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục nhất là các cơ sở giáo dục ngoài công lập có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển nhà trường, bảo đảm cho các trường nâng cao được chất lượng giáo dục, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân về một nền giáo dục tiên tiến. Hiện nay chính phủ, Bộ Giáo dục và các cấp chính quyền địa phương đã có nhiều văn bản quy định và tạo điều kiện cho các CSGD ngoài công lập có những quyền tự chủ trên các lĩnh vực chuyên môn, nhân sự, tài chính. Tuy nhiên thực tiễn sẽ không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió. Để thực hiện đầy đủ và có ý nghĩa các quyền đó, các CSGD ngoài công lập cần nghiên cứu để hiểu thấu đáo nội dung các chủ trương, chính sách, các văn bản qui định của nhà nước, chủ động thực thiện quyền tự chủ đã được pháp luật và các văn bản pháp qui qui định. Các CSGD ngoài công lập cũng cần chủ động nói lên tiếng nói của mình khi quyền chính đáng bị vi phạm. Có nghĩa là các CSGD ngoài công lập cần phát huy sự chủ động và tự lực. Không có tự lực và chủ động thì các quyền tự chủ tuy có mà cũng không thực hiện được tên thực tế. Các cấp chính quyền và nhất là các cấp quản lí giáo dục cần hiểu sâu sắc và làm theo những chủ trương đổi mới của Đảng và nhà nước, hiểu và làm được như thủ tường Nguyễn Xuân Phúc đã nói về việc xây dựng nhà nước kiến tạo chứ không phải chỉ là quản lí, lắng nghe và chia sẻ cùng các CSGD, nhất là các CSGD ngoài công lập để các chủ trương, kế hoạch, các qui định sát thực tế hơn, phù hợp với đời sống thực tiễn và phục vụ lợi ích của các tầng lớp nhân dân. Và nhất là thực hiện được đường lối xã hội hóa giáo dục của Đảng, các chính sách khuyến khích xã hội hóa giáo dục của nhà nước, không trái với các văn bản luật đã ban hành, đang còn hiệu lực và không kìm hãm sự phát triển của các CSGD ngoài công lập.

Hiện nay các CSGD ngoài công lập đã trở thành một bộ phận không hề nhỏ so với hệ thống giáo dục chung của cả nước cũng như từng địa phương. Để các dự thảo về chính sách đối với các CSGD ngoài công lập cũng như các qui chế, qui định của nhà nước, của ngành giáo dục đi vào đời sống thực tiễn, bảo đảm cho các CSGD phát huy được quyền tự chủ, người làm luật, người định ra những chủ trương, kế hoạch trong giáo dục cần quan tâm đến sự hiện diện trong đời sống và trong hoạt động giáo dục của hệ thống các CSGD ngoài công lập, lắng nghe và tạo điều kiện cho các CSGD ngoài công lập được nói lên tiếng nói của minh. Nên chăng hàng năm, các cấp quản lí Giáo dục cần có những buổi họp chính thức với các trường ngoài công lập để lắng nghe và chia sẻ, có những buổi đối thoại trực tiếp với lãnh đạo và cán bộ quản lí các CSGD ngoài công lập, đặng giúp các trường tháo gỡ khó khăn và giúp cho các kế hoạch, qui định của các cơ quan quản lí Giáo dục đi được vào thực tiễn đời sống xã hội. cần coi diễn đàn của các trường ngoài công lập là nơi phản biện tốt cho công tác quản lí của ngành giáo dục. Mặt khác, để tiếng nói của CSGD ngoài công lập được vang xa hơn, đến được những nơi cần đến, trung ương Hội Tâm lý Giáo dục và hội Tâm lý Giáo dục các tỉnh, thành phố nên trở thành một kênh thông tin quan trọng, một diễn đàn phản biện của các CSGD nói chung trong đó có tiếng nói của các CSGD ngoài công lập. Các địa phương cũng nên cho phép thành lập hiệp hội các CSGD ngoài công lập phổ thông, thay vì chỉ cho phép hoạt động trong phạm vi một câu lạc bộ Hiệu trưởng các trường Trung học cơ sở hay Trung học phổ thông như một số ít địa phương đã làm. 

Chú thích

  1. Dự thảo Chương trình giáo dục tổng thể, tháng 6/ 2017- Bộ Giáo dục và Đào tạo
  2. (5)  Báo cáo thống kê GD và ĐT Hà Nội đầu năm 2016-2017 ngày 31/10/2016 của sở GD&ĐT Thành phố Hà Nội
  3. Qui chế hoạt động của các trường Ngoài công lập, được ban hành bởi thông tư số 13 / 2011/TT- BGDĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011 của Bộ Giáo dục & Đào tạo, do thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển, kí thay Bộ trưởng
  4. Các văn bản chính được giới thiệu trong phần “ Tài liệu tham khảo” của bài này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Dự thảo Chương trình giáo dục tổng thể, tháng 6/ 2017- Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học. Ban hành theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 2/4/2007 của Bộ GD&ĐT .

- Nghị quyết 73/1999/NQ-CP của chính phủ do Thủ tướng Phan Văn Khải ký ngày 19/8/1999 về việc: Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao

- Nghị định số 53/2006/NĐ-CP của chính phủ do Thủ tướng Phan Văn Khải ký ngày 25/5/2006 về Chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung cấp dịch vụ ngoài công lập

- Nghị quyết số 6/2009/NQ-UBND của UBND TP Hà Nội về việc: Đẩy mạnh xã hội hóa  giáo dục đào tạo và y tế của Thành phố Hà Nội giai đoạn 2009-2015

- Quy định về một số cơ chế chính sách đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực dịch vụ đô thị, giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao trên địa bàn thành phố Hà Nội. Ban hành theo Quyết định số 138/2007/QĐ-UBND của UBND TP Hà Nội ngày 3/12/2007

- Qui chế hoạt động của các trường Ngoài công lập, được ban hành bởi thông tư số 13 / 2011/TT- BGDĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011 của Bộ Giáo dục & Đào tạo, do thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển, kí thay Bộ trưởng

- Quy định về chính sách khuyến khích xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội.ban hành theo Quyết định số 25/2010/QĐ-UBND của UBND TP Hà Nội do Phó chủ tịch Hoàng Mạnh Hiển ký ngày 21/6/2010

- Báo cáo thống kê GD và ĐT Hà Nội đầu năm 2016-2017 ngày 31/10/2016 của sở GD&ĐT Thành phố Hà Nội do Giám đốc Nguyễn Hữu Độ kí

 

TS Nguyễn Văn Hòa Trường THCS & THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm – Cầu Giấy
  • Bình luận của bạn
  •  

Thư viện ảnh

Kết nối cộng đồng